Ngự y Nguyễn Địch “Chữa bệnh cho Vua như cưỡi trên lưng hổ”

Có thể nói Ngự y là nghề cao quý bởi không chỉ là chữa bệnh cứu người bình thường mà đó là chữa bệnh cho Vua và Hoàng Tộc. Thế nhưng, đó chỉ phần nào lột tả những khó khăn, áp lực, căng thẳng thậm chí là lo sợ mà các Ngự y phải đối mặt. Bởi chỉ cần 1 sơ suất nhỏ thôi cũng phải trả giá bằng tính mạng. Ngự y Nguyễn Địch đã từng có suy nghĩ như vậy về công việc của các Ngự y chốn Kinh thành.

Năm Gia Long thứ 9 (1810) cho dựng Thái Y viện (Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 40, mặt khắc 14) Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV

Xem thêm: Ngày xưa Ngự y chữa bệnh thoái hoá khớp cho Vua như thế nào?

Thái y hay Ngự y là những danh y được các địa phương tiến cử vào cung hoặc trải qua các đợt sát hạch, tuyển chọn kỹ lưỡng. Họ có nghĩa vụ chẩn trị bệnh cho Vua, hoàng tộc và các quan đại thần trong Kinh thành. Nếu các bề trên sổ mũi, nhức đầu thông thường thì không sao, nhưng nếu gặp phải trường hợp bệnh nặng thì trách nhiệm của Thái y vô cùng nặng nề.

Việc tuyển chọn các Ngự y vào Thái Y Viện được tổ chức rất kỹ, thông qua hội đồng sát hạch, gồm có Viện Cơ mật, Nội các, Xứ Thị vệ và Thái y viện… Sau khi hội đồng này đã sát hạch, sẽ làm danh sách tâu lên và đích thân nhà vua sẽ phê chuẩn. Bên cạnh quy trình sát hạch nghiêm ngặt thì còn có quá trình tiến cử danh y, Vua ban chỉ dụ cho các quan địa phương để tìm chọn danh y tài giỏi để tiến cử đưa vào cung.

Quy trình khám bệnh và dâng thuốc cho nhà vua được thực hiện thường xuyên, thể hiện ở châu bản dưới hình thức bản tấu. Thời Gia Long có cả thảy 94 trang châu bản ghi chép các bản tấu dâng thuốc cho nhà vua dùng.

Trước hết là quan nội giám truyền chỉ cho Thái y viện biết là vua đang mắc bệnh, “long thể bất an”. Nhận được chỉ, Thái y viện họp lại và cử người vào ngự chẩn. Những người xem mạch cho vua hay người trong cung thường được chọn trước.

Ngự chẩn xong phải giải thích biện chứng cho vua biết. Sau đó trở về viện họp nghị bàn luận trị. Sau khi “hội chẩn”, Thái y viện làm bản tấu (tờ khải) dâng tiến ngự dược, có tên, chữ ký, khuôn dấu của các ngự y, ấn triện “Thái y viện quan phòng” và tên, chữ ký, dấu triện của quan kiểm thị, cùng tên của người viết bản tấu dâng lên cho nhà vua xem. Xem xong, nhà vua có ý kiến ghi vào bằng nét son gọi là châu phê, với các nội dung là: Dĩ lãm (đã xem), hoặc Tri đạo liễu (đã biết rồi).

Ngự y tham gia khám chữa bệnh cho vua, có khi 1 người, có khi 2 đến 4 người, hoặc nhiều hơn, tùy bệnh trạng. Người khám bệnh được chỉ định có thể là quan ngự y, cũng có thể là các quan lại khác am tường về y thuật. Các tờ châu bản còn cho thấy có khi thầy thuốc không phải là người của Thái y viện mà là một vị quan hay thầy lang ở ngoài.

Cảnh thăm mạch của ngự y Thái Y Viện dưới triều Nguyễn ở Huế

Các ngự y khi khám chữa bệnh cho vua đều cho thấy một tâm thế lo sợ, kính cẩn. Điều này cũng dễ hiểu bởi nếu chữa khỏi bệnh cho Vua thì được trọng thưởng hậu hĩnh, còn nếu không có thể bị chém đầu.

Xưa nay, từ Vua tới các phi tần đều sống trong nhung lụa xa hoa, bữa ăn gồm đủ loại sơn hào hải vị. Thói quen sinh hoạt, ăn uống thừa thãi, không điều độ khiến vua, quan, phi tần ít nhiều đều có những vấn đề về sức khỏe. Người thân phận cao quý nhưng cơ thể suy nhược, hễ mắc bệnh thường khó chữa, những lúc như vậy Thái y trở thành kẻ chịu tội, bởi tất cả đều quy từ cái sự “bất tài vô dụng” của họ mà ra.

Mặc dù quy trình khám, chẩn bệnh cho nhà vua vô cùng nghiêm ngặt, nhưng chỉ cần một sơ suất nhỏ hay thậm chí không sai vẫn có thể trở thành kẻ phạm tội ngay tức thì nếu sự cố xảy ra. Theo luật, nếu rủi ro, vua vừa uống thuốc đã chết, lập tức các quan ngự y bị bắt giam, cho đến khi vua mới đăng quang, nếu xét rõ vô tội mới được tha.

Trường hợp của Gia Long là một điển hình. Sau một thời gian dài lâm bệnh, mặc dù các quan ngự y nỗ lực chẩn bệnh và dâng nhiều bài thuốc nhưng bệnh vua vẫn không thuyên giảm, đến ngày 19 tháng chạp năm Kỷ Mão (1819) vua băng hà. Các quan ngự y gồm chính ngự y Nguyễn Tiến Hậu, phó ngự y Đoàn Đức Hoảng và cai bạ hầu thuốc Trần Vân Đại đều bị bắt giam. Mãi đến tháng 3, năm Canh Thìn (1820), nhờ các đại thần hết sức tâu xin, những người này mới được tha về làng.

Khi vua Minh Mạng lên ngôi (1820) đã bổ nhiệm lại một loạt quan ngự y mới. Theo bản tấu của Thái y viện ngày 17 tháng 11 năm Minh Mạng thứ nhất (1820), ông Đoàn Văn Hòa (quê xã An Truyền, tổng Vĩ Dã, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong) là người đứng đầu Thái y viện với chức tống thị ngự y phó đã dâng lên nhà vua một bản danh sách gồm 85 người ở Thái y viện để xin thăng thụ phẩm hàm.

Thế nhưng, sau đó từ người đứng đầu Thái y viện, ông Đoàn Văn Hòa cùng một loạt quan ngự y khác đều mắc lỗi và bị giáng cấp. Châu bản năm Minh Mạng thứ 8 (1827) chép việc phó ngự y Nguyễn Tăng Long trước đây có lỗi bị giáng xuống 4 cấp, phó ngự y Đoàn Văn Hòa có lỗi cũng bị giáng 4 cấp, y chính Trần Văn Diên bị giáng 3 cấp. Nay nhân gặp dịp lễ lục tuần đại khánh của hoàng thái hậu, ban ơn cho phép được phục hồi một cấp… Nên người đời sau ví làm ngự y như chơi với hổ, không sao lường được sự sống chết, thưởng phạt của mình.

Sắc phong của vua Tự Đức ban cho Ngự y Thái Y Viện năm Tự Đức thứ 10 (1857)

Một trong những Ngự y hiếm hoi không bị trách phạt là Phó chính ngự y Nguyễn Địch. Một phần là do may mắn nhưng không thể nào phủ nhận về y thật của ông. Bên cạnh đó còn phải kể đến những bài thuốc do ông bào chế dâng lên Vua có hiệu nghiệm tốt tiêu biểu như: bài thuốc Quy Tỳ Thang gia giảm (Minh Mạng Thang), bài thuốc chữa thoái hoá khớp… được ghi chép trong Châu bản triều Nguyễn. Riêng bài thuốc chữa thoái hoá khớp này của ông hiện nay đã được phục dựng thành công với tên gọi Nhất Nam Cốt Vương Thang tại Nhất Nam Y Viện (nơi phục dựng Thái Y Viện triều Nguyễn cũng như phục dựng cái bài thuốc, phương pháp chữa bệnh cho Vua). Và một số cuốn sách về y lý do ông viết như: Mạch học y lý, Tự dục phụ nhân, Vân Khê bản thảo… Đây đều là những tư liệu rất quý về y thuật. Trong đó đặc biệt cuốn Vân Khê bản thảo được Thái Y Viện quan phòng xuất bản năm Hàm Nghi thứ nhất (1884).

(từ trái qua phải) Ảnh 1: Phần bìa của cuốn Vân Khê yếu lục nguyên văn chữ Hán tác giả Nguyễn Địch do Thái y viện quan phòng xuất bản năm Hàm Nghi thứ nhất (1885). Ảnh 2, 3: Phần nội dung mô tả công hiệu của Quy tỳ thang gia giảm để trị chứng dương nuy (liệt dương) ở nam giới .

Nguyễn Địch, tên thụy là Đoan Thuận, hiệu Khải Chi, người làng Vân Canh (nay thuộc xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Nội) được mời vào cung làm quan ngự y dưới thời Tự Đức, giữ chức Phó chính ngự y và Trưởng viện Thái y bổ làm Hàn lâm cung phụng. Tuy nhiên ông viện cớ mẹ già ngoài 80 tuổi, phải về quê, được vua Tự Đức khen là người có hiếu, thưởng 5 lạng bạc, sai lính đưa về quê phụng dưỡng mẹ già xong phải quay lại kinh ngay.

Đến tháng 5 năm Quý Mùi, cảm phục tài năng y thuật của ông, Vua Tự Đức lại triệu ông vào kinh, không lâu sau ông lại xin về. Đến năm Giáp Thân niên hiệu Kiến Phúc, ông lại được triệu vào kinh bổ chức Hàn lâm viện biên tu, sung vào Thái y viện, bổ làm Phó ngự y quan phòng, quyền giữ chức Thái y viện quan phòng.

Đến năm Hàm Nghi thứ 2 (1885), ông lại cáo bệnh về quê, mở trường dạy nghề y và biên soạn các bộ sách: Mạch học y lý, Tự dục phụ nhân và Vân Khê bản thảo.

Cuộc đời ông gắn liền với việc chữa bệnh cho các đời Vua, viết sách và nhiều lần cáo quan về quê nhưng chưa một lần ông bị trách phạt nghiêm trọng, bằng chứng là mặc dù nhiều lần cáo quan về quê nhưng cũng nhiều lần ông được Vua triệu vào Cung, không phải một mà nhiều đời Vua như Tự Đức, Kiến Phúc, Hàm Nghi…

Điều này cũng phần nào minh chứng cho tài năng, y thuật và cả những bài thuốc dùng chữa cho Vua của ông thực sự có hiệu nghiệm nên rất được lòng Vua tin tưởng và biệt đãi.

Có thể bạn muốn biết: Ngự y Nguyễn Địch và bài thuốc chữa thoái hoá khớp cho các đời Vua triều Nguyễn

Anh Đức

Bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Video

Tag